Sự nguy hiểm của việc nhập cư trái phép vào Đức – cập nhật 2020

Hiện nay có rất nhiều người Việt Nam tìm cách nhập cư vào Đức, trong đó có cả hình thức nhập cư hợp pháp và cả hình thức nhập cư trái phép vào Đức để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn. Tuy nhiên ngoài những hình thức nhập cư chính thống, có những hình thức nhập cư trái phép vào Đức mà nhiều người đã phải trả một cái giá khá đắt hoặc có một kết thúc không có hậu.

1. Nguồn lao động nhập cư trái phép từ Việt Nam vào Đức trước 1990

Nhập cư bất hợp pháp tại Đức

Nhập cư trái phép tại Đức

1.1. Thực trạng tại các vùng Tây Đức

Nguồn lao động nhập cư trái phép của người Việt tại Tây Đức từ những năm trước 1990 là những người tị nạn sau Chiến tranh Việt Nam. Sau khi Sài Gòn thất thủ, có tất cả 208 gia đình người Việt Nam với tổng cộng 644 người đến Hannover vào năm 1978. Một tập thể vào Đức nhưng chẳng ai biết nói tiếng Đức. Trong nhóm dân này họ đã trải qua:
– Họ nhận được trợ cấp chính phủ bởi phúc lợi xã hội và giúp đỡ tìm việc làm.
– Cơ hội hồi hương khi đến vùng đất mới khá thấp.
– Họ tham gia thị trường lao động với nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau để kiếm sống, nhưng hầu hết là tập trung vào ngành kim loại.

Đến khi Đức thống nhất, Tây Đức lúc này có khoảng 33.000 người di dân gốc Việt, chủ yếu là những thuyền nhân và người thân của họ được vào Đức theo diện đoàn tụ gia đình.

1.2. Thực trạng tại các vùng Đông Đức

Người Việt buôn bán thuốc lá lậu để kiếm sống

Người Việt buôn bán thuốc lá lậu để kiếm sống

Các giai đoạn của người Việt tại Đông Đức:

Khi xưa Đông Đức có một số lượng lớn những sinh viên miền Bắc được mời tham gia vào các chương trình học tập và đào tạo từ thập niên 1950. Đến những năm 1973, sự hợp tác được mở rộng, họ hứa sẽ có thêm 10.000 người nữa được đào tạo trong 10 năm kế tiếp. Sau đó có những giai đoạn chuyển tiếp:
– Năm 1980, Đông Đức ký hiệp định với nước CHXHCN Việt Nam để các hàng Đông Đức đào tạo người Việt.
– Giữa năm 1987 và 1989, Chính phủ Đông Đức tận dụng hình thức đào tạo này để viện trợ phát triển cho các thành biên nghèo trong khối xã hội chủ nghĩa.
– Đến giữa thập niên 1980, người Việt, cùng với người Mozambique, tạo thành những nhóm lao động ngoại quốc chính tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Ngoài ra có một bộ phận không có học thức chỉ có thể tìm kiếm cơ hội qua việc buôn bán thuốc lá một cách trái phép.
– Từ một dân số 2.482 trong năm 1980, số người Việt tại Đông Đức đã tăng đến 59.053 trong năm 1989, với số người vào lớn nhất trong năm 1987 và 1988. Họ chủ yếu tập trung trong các thành phố Karl-Marx-Stadt, Dresden, Erfurt, Đông Berlin và Leipzig. Theo hợp đồng, họ ở Đông Đức 5 năm, sau đó họ sẽ hồi hương.

Cuộc sống của lao động Việt Nam tại Đông Đức:

Cuộc sống của người lao động Việt Nam tại Đông Đức

Cuộc sống của người lao động Việt Nam tại Đông Đức

– Những người lao động khách Việt Nam nhận tiền lương khoảng M 400/tháng, trong đó chính phủ Việt Nam lấy 12%, và một phần khác được trả bằng hàng hóa tiêu dùng—chủ yếu là máy may, xe đạp, quần áo, đường và xà phòng—thay vì tiền mặt vì lạm phát.
– Sau khi nước Đức thống nhất, chính phủ Đức tìm cách giảm bớt số người lao động khách ở miền Đông bằng cách cho mỗi người M3.000 để rời khỏi Đức và hồi hương. Hàng chục nghìn người đã đồng ý và về Việt Nam, nhưng những người này lại được thay thế bởi những người Việt làm lao động hợp đồng ở những nước Đông Âu khác xin tị nạn.
– Trong suốt thập niên 1990, các cố gắng của chính phủ Đức để đưa những người nhập cư trái phép này về quê hương không được hiệu quả, vì Đức không muốn cưỡng bức những người này hồi hương và Việt Nam lại không muốn tiếp nhận họ; tuy nhiên, gần 40% bị cấm ở lại Đức dài hạn.

2. Các hình thức nhập cư trái phép vào Đức phổ biến

Hiện nay, các hình thức nhập cư trái phép vào Đức thông qua các trung gian tổ chức đen cứ hàng ngày diễn ra. Từ những cuộc hôn nhân giả, làm giấy tờ giả để được đến Đức, hay cả buôn lao động hiện đại. Dù đó là những hành vi trái pháp luật, nhưng rất nhiều người không hiểu, cố chấp hoặc cố tình không hiểu đã sa vào con đường phạm pháp và hậu quả là rất lớn.

2.1. Thực trạng Hôn nhân giả

Nhập cư bất hợp pháp tại Đức

Nhập cư bất hợp pháp tại Đức thông qua việc kết hôn giả

Có một sự thật là dù thời hiện đại nhưng vẫn có nhiều nhóm người Việt Nam chọn con đường hôn nhân giả để được định cư tại Đức. Mọi suy nghĩ cứ đơn giản là chuẩn bị một cuộc hôn nhân trên giấy tờ trị giá vài nghìn Euro để được quyền cư trú 2-3 năm tại Đức sau khi xong xuôi giấy tờ, rồi lại đường ai nấy đi. Cứ nghĩ là như thế là xong, chính mình sẽ trở thành một công dân ở Đức thực thụ. Nhưng sau đó là một loạt các hệ lụy vô cùng lớn mà người ngoài không thể biết được.
Một cuộc hôn nhân giả diễn nếu không may gặp đối tượng người vợ hoặc chồng ở Đức một người không tốt, mình chưa biết gì về họ, chưa tìm hiểu kỹ để đánh chân đi liều. Đau đớn khi đó là những người Đức (hoặc người Việt định cư lâu năm) thất nghiệp, nát rượu, nghiện ngập hay có vấn đề gì đó mới chấp nhận hợp tác dịch vụ này. Bạn sẽ mất đi một khoảng tiền lớn có thể lên đến 30 nghìn Euro, suốt ngày lãnh hậu quả khi sống và đối mặt với họ.
Kéo theo đó là những câu chuyện bạo hành, đối xử bất công, mất thêm những khoản tiền khác, chịu thiệt thòi nơi đất khách mà không ai chia sẻ. Nhiều người bị như vậy và trở thành người phụ thuộc của đối phương, nhiều người phải sống trong cảnh bị khủng hoảng tâm lý, bị đe dọa sẽ bóc mẽ câu chuyện giả tạo hôn nhân này với chính quyền. Và kết cục là sau khi mất cả những khoản tiền lớn, bị bạo hành về tâm lý, những người Việt với hình thức nhập cư trái phép vào Đức ấy sẽ tay trắng trở về nước.

Có một thực tế gần đây, tháng 09/2019 chính phủ Đức đã huy động lực lượng 300 cảnh sát đã truy quét một đường dây nhập cư trái phép vào Đức ở 5 tiểu bang. Cảnh sát đã lục soát 33 căn hộ, cũng như các địa điểm cư trú khác. Có 9 người Việt Nam đã bị bắt sau cuộc truy quét này.
Qua điều tra, cảnh sát cho biết ngoài dịch vụ kết hôn giả, nhóm buôn người trái phép này còn cung cấp dịch vụ chứng minh quan hệ bố-con giả, nhằm qua mặt các cơ quan chức năng của Đức để xin quyền cư trú. Theo các nhà chức trách, mỗi năm có khoảng 5000 trường hợp ‘‘bố giả‘‘ như vậy. Những người Đức đồng ý hợp tác với những đường dây này thường không có công ăn việc làm, chỉ hưởng trợ cấp xã hội.

2.2. Buôn người lao động từ Balan và các nước Trung/Đông Âu

nhập cư trái phép

Nhập cư trái phép vào Đức từ nước thứ 3 như Ba Lan bằng đường bộ hoặc xe

Một hình thức nhập cư trái phép vào Đức nữa của người Việt để được vào Đức đó là buôn người lao động từ Balan và các nước Trung/Đông Âu. Trong vài năm gần đây, số lượng người Việt Nam nhập cư trái phép vào Đức ngày một tăng, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên. Một sự thật đau lòng và đầy thương xót mà ít ai biết đến.
– Tháng 6/2018, cảnh sát Đức đã bắt được một nhóm buôn người ở gần biên giới Đức – Ba Lan, trong đó có hai kẻ cầm đầu và 12 người Việt Nam, trong đó có 2 trẻ vị thành niên.
– Hai kẻ cầm đầu đã bị bắt, nhóm người lớn được trả về Ba Lan, còn hai đứa trẻ đã được đưa về các trung tâm bảo trợ trẻ em. Tuy nhiên, cả hai đứa trẻ đều biến mất không lâu sau đó.
Ở Ba Lan, một phiên tòa đã được tổ chức để xét xử các đối tượng có hành vi buôn người trái phép sang Đức. Trong phiên tòa này, một thanh niên Việt Nam đã cho biết: cậu thường xuyên bị đánh đập, đe dọa, bỏ đói cũng như bị bóc lột sức lao động. Hành trình qua Đức để chạm được “giấc mơ Tây Âu” này của cậu đã trải qua rất nhiều khó khăn:
– Từ lúc bà của cậu phải thế chấp nhà của mình cho các tay môi giới
– Sau đó cậu được đưa sang Ba Lan, cậu bị giam trong một căn phòng nhỏ suốt một tuần lễ trước khi được đưa sang Đức với một nhóm 9 người Việt khác.

Theo các nhà chức trách, đã có không ít trường hợp người Việt bị vận chuyển trong các thùng chứa hàng, các thùng đồ đông lạnh và phải chịu những tổn thương về thân thể, thậm chí là tính mạng.
Nhà chức trách Ba Lan gọi đây là hành động buôn người, một dạng nô dịch thời hiện đại. Rất nhiều nạn nhân của những đường dây này là thanh thiếu niên từ các gia đình nghèo, không ít trong số đó là trẻ mồ côi. Trên con đường từ Việt Nam sang Đức, rất nhiều người trong số các thanh, thiếu niên này đã bị bỏ đói, bị ép làm việc không công, đánh đập, thậm chí quấy rối (bản gốc: cưỡng hiếp). Địa điểm cuối cùng của những cuộc hành trình này thường là các sa-lông mát-xa, các cơ sở lao động không có đăng kí rõ ràng.

3. Cái giá phải trả của việc nhập cư trái phép

Nhập cư bất hợp pháp tại Đức

Cái giá phải trả cho việc nhập cư trái phép tại Đức có khi là rất đắt và đánh đổi bằng mạng sống của bản thân

Những hình thức nhập cư trái phép vào Đức trên đều phải trải qua một cái giá rất đắt.
Trong vụ triệt phá đường dây kết hôn giả gần đây, cảnh sát đã thu giữ được khoản tiền lên tới 5 chữ số. Theo thống kê của Cục phòng chống tội phạm và ma túy của Mĩ, chỉ riêng trong năm 2016, các đối tượng đã thu về 6 triệu đô tiền lợi nhuận. Đối với các vụ án đã được phá, cảnh sát và chính phủ Đức luôn có những biện pháp trừng phạt thích đáng cho các đối tượng chống lại pháp luật.
Một số hình thức phạt cho các đối tượng này tùy theo mức độ và thời gian phạm tội, nhẹ thì bị phạt tiền, nặng là phạt tù. Đối với các dịch vụ đưa người sang Đức trái phép, tùy theo mức độ nghiêm trọng, hình phạt cho đối tượng tổ chức đường dây sẽ là từ 03 tháng đến 10 năm tù giam.

Nhập cư bất hợp pháp tại Đức

Nhập cư trái phép tại Đức

Dẫu có thể những người phạm tội trước đó đã có biết được những hậu quả này, nhưng sự ham muốn và ước mơ thay đổi cuộc đời ở bầu trời Tây Âu không chính thức đã khiến họ lâm vào cảnh như vậy. Ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn, tương lai rộng lớn hơn khi chọn định cư tại Đức là hoàn toàn được mơ ước. Tuy nhiên, thực hiện giấc mơ đó như thế nào, làm gì để đạt được nó mà không phạm pháp, không ảnh hưởng đến hệ quả sau này con cháu phải nhận lấy, không bị vết dơ trong lý lịch thì hãy thực hiện. Có thể bạn sẽ sống sung túc, tốt hơn hoặc sống trong sự hối hận, hổ thẹn, nghèo khó là do bạn chọn. Các bạn trẻ có khả năng học có thể chọn con đường du học nghề với chính sách định cư sau 5 năm tại Đức. Đây là cơ hội giúp các bạn nhập cư hợp pháp vào Đức một cách đường đường chính chính và có một cuộc sống tốt đẹp cho cả thế hệ sau của bạn.

THAM KHẢO THÊM:

IECS và Vuatiengduc là công ty chuyên tư vấn du học Đức, tư vấn du học nghề tại Đức ngành điều dưỡng và trung tâm học tiếng Đức tại TpHCM uy tín nhất hiện nay. Với đội ngữ sáng lập đã sinh sống 20 năm tại Đức, chúng tôi hiểu các bạn cần gì và sẽ tìm ra giải pháp cho từng học viên học tiếng Đức chuyên nghiệp. IECS công ty số 1 về du học Đứcdu học nghề Đức  ngành điều dưỡng tại Đức tại thành phố Hồ Chí Minh. Trụ sở chính công ty ở tại quận Tân Phú gần sân bay Sài Gòn.

 

Pronomen: Đại từ trong tiếng Đức (P.2)

Phần trước chúng ta đã tìm hiểu về Đại từ nhân xưng (Personalpronomen), Đại từ sở hữu (Possessivpronomen) và Đại từ quan hệ (Relativpronomen). Trong bài viết này, mình cùng tìm hiểu 3 loại đại từ Pronomen còn lại: Đại từ phản thân (Reflexivpronomen), Đại từ chỉ định (Demonstrativpronomen) và Đại từ bất định (Indefinitpronomen) nhé.

Pronomen

1. Đại từ phản thân – Reflexivpronomen

a. Đại từ phản thân – Reflexivpronomen là gì?

Đại từ phản thân (Reflexivpronomen) phụ thuộc vào chủ ngữ và luôn chỉ định cùng một đối tượng. Chúng luôn được đi kèm với động từ (được gọi là động từ phản thân – Chúng ta tìm hiểu ở bài sau nhé)

Đại từ phản thân (Reflexivpronomen) chủ yếu được sử dụng ở Akkusativ. Nhưng cũng có một số trường hợp chúng sẽ biến đổi về Dativ. Các bạn xem bảng Đại từ phản thân (Reflexivpronomen) được chia theo Đại từ nhân xưng ở dưới đây:

Đại từ phản thân

Xem bài viết về
Đại từ phản thân phần I

b. Khi nào bạn sử dụng đại từ phản thân trong tiếng Đức?

  • Động từ phản thân sử dụng đại từ phản thân mang ý nghĩa là chính bản thân họ.

z.B: Ich dusche mich. (Tôi tự tắm)

Nếu như trong câu xuất hiện thêm một thân ngữ thứ 2 (Akkusativobjekt) thì đại từ phản thân sẽ được chia về cách 3 – Dativ

z.B: Ich putze mir die Zähne. (Tôi tự đánh răng)

  • Động từ phản thân sử dụng đại từ phản thân mang ý nghĩa là người khác và chỉ sử dụng ở số nhiều. Những động từ được sử dụng gồm: sich kennen, sich sehen, sich lieben, sich streiten, sich einigen

z.B: Ich glaube, wir kennen uns. (Tôi nghĩ chúng ta đã biết nhau) -> câu này có nghĩa là tôi đã biết bạn và bạn cũng biết tôi

Tom und Albert streiten sich. (Tom và Albert cãi nhau) 

=> Đại từ phản thân ở trong câu này đang chỉ một đối tượng khác mà không phải bản thân chủ thể.

Reflexivpronomen - Đại từ phản thân

Bài tập phần Đại từ phản thân – Reflexivpronomen

2. Đại từ chỉ định – Demonstrativpronomen

a. Đại từ chỉ định – Demonstrativpronomen là gì?

Đại từ chỉ định (Demonstrativpronomen) được dùng để nhấn mạnh đến người hoặc vật trong một ngữ cảnh và nhấn mạnh tầm quan trọng của người hoặc vật đó. Đại từ chỉ định vừa dùng để thay thế cho danh từ, mà cũng vừa đóng vai trò như một Artikel và thường đứng ở vị trí số 1 (Position.1).

Các đại từ chỉ định quan trọng gồm:

  • der, die, das, …

Kennst du diesen Mann dort? Den habe ich hier bei uns noch nie gesehen. (Bạn có biết người đàn ông này ở đó không? Người này tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở đây với chúng tôi.)

  • dieser, jener, …

Hast du schon das Buch hier gelesen? – Nein, dieses kenne ich noch nicht, aber jenes. (Bạn đã đọc cuốn sách này ở đây? – Không, tôi không biết quyển này, nhưng tôi biết cái kia.)

  • derjenige, diejenige, …

Diejenigen, die etwas sagen wollen, sagen es jetzt oder schweigen für immer. (Những người, muốn nói điều gì đó,thì nói bây giờ hoặc im lặng mãi mãi.)

  • derselbe, dieselbe, … 

Das ist derselbe, der gestern auch schon mal nach Ihnen gefragt hat. (Đây là cùng một người, người đã hỏi về bạn ngày hôm qua.)

  • selbst, selber

Du bist selbst dran schuld, dass du dir weh getan hast. (Đó là lỗi của chính bạn mà bạn làm tổn thương chính mình.)

Và chúng ta sẽ đi sâu vào từng đại từ ở phần dưới đây nhé

b. Đại từ chỉ định “der, die, das, …”

Đại từ chỉ định “der, die, das, …” được dùng phổ biến nhất trong tiếng Đức. Chúng sử dụng thay thế danh từ chỉ người, chỉ vật hoặc thay thế cho toàn bộ câu để tránh lặp lại. Nó được biến đổi ở các cách như sau:

Đại từ chỉ định der, die, das,...

Những đại từ này được dùng để nhấn mạnh người hoặc vật ở trong câu (trái ngược với các đại từ nhân xưng – không được nhấn mạnh mà chỉ thay thế cho danh từ trong câu để tránh lặp lại.

z.B: Wo hast du denn das Tischchen her? – Das habe ich auf dem Flohmarkt gekauft. (Bạn mua cái bàn nhỏ này ở đâu? – Cái này tôi mua ở chợ đồ cũ.)

-> Đại từ chỉ định “das” ở câu trả lời được dùng để thay thế cho danh từ “das Tischchen” và nhấn mạnh rằng “cái bàn nhỏ này” được mua ở chợ đồ cũ chứ không phải là cái bàn nào khác.

Lưu ý:

  • “das” đi kèm với trợ động từ “sein” dùng để chỉ một người, một vật hay một đối tượng và thường được kết hợp với các trạng từ “hier”, “da” “dort”

z.B: Mama, was ist das hier? – Das ist eine Taschenlampe, mein Sohn. (Mama, đây là cái gì? – Đây là đèn pin con trai)

Wer ist die Frau dort? – Das ist Frau Axt, unsere neue Nachbarin. (Người phụ nữ ở kia là ai? – Đó là bà Axt, hàng xóm mới của chúng ta.)

  • “das” cũng có thể đề cập đến toàn bộ nội dung câu

z.B: Viele Leute schmeißen ihren Müll einfach auf die Straße. Das kann nicht sein. (Nhiều người vứt rác ra giữa đường phố. Điều này là không thể được.)

Frau Hansen will sich scheiden lassen. Das habe ich auch schon gehört. (Bà Hansen muốn ly hôn. Tôi cũng đã nghe thấy điều đó.)

  • Hai đại từ chỉ định số nhiều ở Genitiv là “deren” và “derer” có ý nghĩa khác nhau. “Deren” chỉ một cái gì đó đã được lên kế hoạch từ trước và sẽ thực hiện nó. Còn “derer” chỉ một cái gì đó đã có kết quả từ trước.

z.B1: Am Wochenende fahren wir mit unseren Freunden und deren Kinder zum Kölner Zoo. (Vào cuối tuần, chúng tôi đi đến sở thú Kölner với bạn bè và con cái của họ.)

=> “deren” được sử dụng để thay thế cho danh từ “Freunden”. Câu này có nghĩa là kế hoạch đi chơi sở thú đã có từ trước và sẽ được thực hiện vào cuối tuần này.

z.B2: Die Zahl derer, die durch die hiesigen Prüfungen fallen, ist äußerst gering. (Số lượng những người trượt kỳ thi ở đây là vô cùng ít.)

=> “derer” được dùng trong câu này thay thế cho danh từ “Menschen”. Câu này có nghĩa là kỳ thi đã diễn ra và kết quả là có rất ít người trượt kỳ thi này.

c. Đại từ chỉ định “dieser, … und jener, …”

Cũng giống như các đại từ khác “dieser, diese, …” và “jener, jene, …” cũng được dùng để thay thế danh từ hoặc đóng vai trò của một quán từ (Artikel)

  • dieser, diese, …” được sử dụng khi một người hoặc vật gần gũi hơn với người nói từ góc độ không gian hoặc thời gian.
  • jener, jene, …” được sử dụng nếu một người hoặc vật ở xa hơn trong không gian hoặc thời gian theo quan điểm của người nói.

z.B: Kennst du diesen Mann auf dem Foto? – Diesen kenne ich nicht , aber jenen. (Bạn có biết người đàn ông ở trong bức ảnh này? – Người này tôi không biết, nhưng tôi biết người kia.)

Wie findest du die roten Schuhe? – Diese finde ich nicht schön, aber jene sind hübsch. (Bạn thấy đôi giày màu đỏ này như thế nào? – Đôi này tôi thấy không đẹp, nhưng đôi kia đẹp hơn.)

Đại từ chỉ định dieser, ... und jener, ...

d. Đại từ chỉ định “derjenige, diejenige, …”

Đại từ chỉ định “derjenige, diejenige, …” có cấu tạo gồm 2 phần. Phần đầu tương ứng với quán từ xác định (bestimmten Artikel)der, die, … Và phần sau tương ứng với đuôi tính từ được chia theo các quán từ xác định – jenige, …

Đại từ chỉ định được sử dụng thay thế khi thông tin được thay thế nằm trong câu mệnh đề quan hệ (Relativsatz)

z.B: Diejenigen, die schon gestern anwesend waren, können jetzt mit den Übungen beginnen. (Những người, có mặt ở đây ngày hôm qua, có thể bắt đầu làm bài tập ngay bây giờ.)

Wir gratulieren denjenigen, die die Prüfung mit “sehr gut” bestanden haben. (Chúng tôi chúc mừng những người đã đạt kết quả “xuất sắc” trong kỳ thi.)

Đại từ chỉ định derjenige, diejenige, ...

e. Đại từ chỉ định “derselbe, dieselbe, …”

Đại từ chỉ định “derselbe, dieselbe, …” cũng có cấu tạo tương tự như “derjenige, diejenige, …“. Chúng được sử dụng để chỉ một người hoặc vật tương ứng với người hoặc vật đã được đề cập đến trước đó.

z.B: Warum fragst du mich jeden Tag dasselbe? (Tại sao bạn cứ hỏi tôi điều tương tự mỗi ngày?)

Der Mann mit Hut war schon wieder hier. Es war derselbe, der schon gestern nach Ihnen gefragt hat. (Người đan ông với chiếc mũ đã đến đây lần nữa. Đó là cùng một người, người đã hỏi về bạn ngày hôm qua.)

Đại từ chỉ định derselbe, dieselbe, ...

f. Đại từ chỉ định “selbst / selber”

Selbst” và “selber” đều có cùng một nghĩa, nhưng “selbst được sử dụng phổ biến hơn còn selber mang tính chất ngôn ngữ địa phương.

z.B: Niemand wollte ihm helfen, sodass er sich selbst helfen musste. (Không ai giúp anh ta cả, vì thế anh ta phải tự giúp chính mình.)

Dass du dir weh getan hast, bist du selber schuld. (Đó là lỗi của bạn, chính bạn đã tự làm tổn thương bản thân.)

Bài tập phần Đại từ chỉ định – Demonstrativpronomen

3. Đại từ bất định – Indefinitpronomen

a. Đại từ bất định – Indefinitpronomen là gì?

Đại từ bất định hay còn được gọi là đại từ không xác định được sử dụng để thay thế cho một danh từ có số lượng không xác định (một cái gì đó, một vài người, tất cả, …)

z.B: Kannst du etwas für mich tun? (Bạn có thể làm gì cho tôi?) -> mang ý nghĩa chung chung
(cụ thể hơn, z.B: Kannst du mein Auto waschen? -> Bạn có thể rửa xe oto cho tôi không? => chỉ một việc cụ thể)

Bạn có thể dùng Đại từ bất định cho người, cho vật hoặc cho cả 2 hoặc dùng cho số ít mà cũng có thể dùng cho số nhiều. Chúng ta sẽ đi sâu vào cách dùng của nó dưới đây:

b. Đại từ bất định dùng để chỉ người

Đại từ bất định manjemandniemand chỉ được sử dụng cho danh từ chỉ người. Và những đại từ này chỉ sử dụng ở số ít, chứ không có dạng số nhiều cho chúng.

Đại từ bất định chỉ người

  • Đại từ bất định “man” có thể dùng cho một hoặc nhiều người không xác định. Nó luôn luôn nằm ở Nominativ và được chia theo ngôi thứ 3 số ít. Nếu muốn biến đổi về Akkusativ hay Dativ thì không còn là “man” nữa

z.B: Darf man hier rauchen? (Có thể hút thuốc ở đây không?)

Als Fußballspieler muss man täglich trainieren. (Là một cầu thủ bóng đá, bạn phải tập luyện mỗi ngày.)

Lưu ý: “man” ≠ der Mann, các bạn tránh nhầm lần giữa 2 từ này nhé.

  • Đại từ jemand”niemand” chỉ có thể sử dụng cho số ít. Jemand” đề cập đến một người không xác định và không rõ giới tính. Jemand” có thể kết hợp với “irgend” để làm tăng thêm sự mơ hồ. Còn đại từ niemand” là phủ định của jemand”. Hậu tố (en) và (em) của biến cách 3 và 4 cũng có thể lược bỏ.

z.B: Wenn man jemanden braucht, ist niemand da. (Khi bạn cần một người nào đó, nhưng lại khôngai cả.)

Irgendjemand muss diese Arbeit tun, aber niemand findet sich dazu bereit. (Ai đó phải làm công việc này, nhưng không ai sẵn sàng làm việc đó.)

c. Đại từ bất định dùng để chỉ vật

Các đại từ bất định: etwasnichtsalleswelch- chỉ được sử dụng để chỉ vật.

  • Đại từ bất định “etwas” có thế có chức năng của một quán từ hoặc có thể thay thế danh từ. Và không bị biến đổi cấu trúc ở trong 4 biến cách. “Etwas” được dùng để đề cập đến một vật hay một tình trạng không xác định, và có thể kết hợp với irgend” để tăng thêm sự mơ hồ.

z.B: Wenn jemand etwas sehr gut kann, sagt man oft: “Der kann das aus dem Effeff”. (Nếu ai đó có thể làm một cái gì đó rất tốt, bạn có thể nói rằng: “Anh ấy làm điều đó từ trong ra ngoài”)

“Etwas” cũng có nghĩa thứ 2 theo nghĩa của “ein wenig” , “ein bisschen”:

z.B: Hast du noch etwas/ein bisschen/ein wenig Zeit für mich? (Bạn có một vài/một chút/một ít thời gian cho tôi không?)

  • Đại từ bất định “nichts” là phủ định của “etwas”. Nó cũng không thay đổi (bất biến)

z.B: Hörst du etwas? – Nein, ich höre nichts. (Bạn có nghe thấy gì không? – Không, tôi không nghe thấy gì cả.)

Möchten Sie noch etwas essen? – Nein, danke. Ich möchte nichts mehr. (Bạn có muốn ăn thêm gì nữa không? – Không, cảm ơn. Tôi không muốn thêm nữa.)

  • Đại từ bất định “alles” có ý nghĩa khái quát, bao quát tất cả

z.B: Manche Leute wollen alles oder nichts. (Một số người muốn tất cả mọi thứ hoặc không có gì.)

Ich mache immer alles alleine. (Tôi luôn luôn làm mọi thứ một mình.)

  • Đại từ bất định “welch-“ như một thay thế cho danh từ, mang ý nghĩa một vài/một ít/một số…

Đại từ bất định welch-

z.B: Im Kühlschrank ist kein Käse mehr. Haben wir noch welchen? (Không còn phô mai trong tủ lạnh. Chúng ta còn những gì?)

d. Đại từ bất định được sử dụng cho cả người và vật

Các đại từ không xác định được sử dụng cho cả người và vật gồm:

  • all-

Đại từ không xác định “all-“ có thể xuất hiện với chức năng của một Artikel hoặc thay thế cho một danh từ

Đại từ bất định all-

z.B: Alle wollen den neuen Film von Harald Plotter sehen. (Mọi người đều muốn xem bộ phim mới của Harald Plotter.) -> “alle” dùng để thay thế cho danh từ “die Menschen”

  • einige

Đại từ bất định “einige” đề cập đến một số lượng không xác định, số lượng có thể ít hơn hoặc nhiều hơn tùy theo tình huống.

Đại từ bất định einige

z.B: Scheinbar haben einige von euch den Ernst der Lage noch nicht verstanden. (Rõ ràng một số bạn chưa hiểu mức độ nghiêm trọng của tình huống.)

  • jede-

Đại từ bất định “jede-“ cũng được dùng để thay thế danh từ. Số nhiều của “jede-“ sẽ biến đổi thành “alle-“

Đại từ bất định jede-

z.B: Jeder von euch entschuldigt sich auf der Stelle. (Mỗi bạn xin lỗi ngay tại chỗ.)

  • ein- /kein-

Đại từ không xác định “ein-“ đại diện cho một người hay một vật đã biết. Phủ định của ein-” “kein-” và số nhiều của “ein-” “welch-“

Đại từ bất định ein- kein-

z.B: Du hast doch noch viele Bonbons. Gibst du mir eins ab? – Nein, du bekommst keins. (Bạn có rất nhiều kẹo. Bạn cho tôi một cái được không? – Không, bạn sẽ không có cái nào.)

  • manch-

Đại từ “manch-“ mang ý nghĩa giống như “einige”

Đại từ bất định manch-

z.B: Manche glauben, perfekt zu sein. Aber ein jeder hat Fehler. (Một số người nghĩ họ rất hoàn hảo. Nhưng ai cũng có sai lầm.)

  • mehrer-

Đại từ không xác định “mehrer-“ mang ý nghĩa giống như “manch-““einige” và nó chỉ tồn tại ở số nhiều

Đại từ bất định mehrer-

z.B: Bei der gestrigen Demonstration wurden mehrere festgenommen. (Nhiều người đã bị bắt trong cuộc biểu tình hôm qua.)

Bài tập phần Đại từ bất định – Indefinitpronomen

Bài viết này thuộc bản quyền của Tổ Chức Tư Vấn Giáo Dục Quốc Tế IECS. Sao chép dưới mọi hình thức xin vui lòng dẫn nguồn và links. 

THAM KHẢO THÊM:

IECSVuatiengduc là công ty chuyên du học nghề Đức và trung tâm tiếng Đức uy tín nhất hiện nay. Với đội ngữ sáng lập đã sinh sống 20 năm tại Đức, chúng tôi hiểu các bạn cần gì và sẽ tìm ra giải pháp cho từng học viên học tiếng Đức chuyên nghiệp.